Top 10 Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh (lớp 11) hay nhất

25-05-2021 10 2 0 0

Báo lỗi

Yếu tố cổ xưa và yếu tố hiện đại trong “Nhật kí trong tù” có mối quan hệ hữu cơ với nhau, không tách rời nhau được mà luôn hỗ trợ cho nhau. Thực ra tinh thần gang thép cách mạng theo kiểu hiện đại ở Hồ Chí Minh là một bước tiến mới dưạ trên nền tảng của phong thái ung dung tự tại của những bậc hiền triết trong thơ cổ xưa. Nếu như yếu tố cổ xưa giúp cho “Nhật kí trong tù” từ một tập nhật kí trở thành thơ theo đúng nghĩa của thơ thì yếu tố hiện đại mang lại cho tập thơ tư tưởng của thời đại. Nếu yếu tố cổ xưa là điều kiện cần thì yếu tố hiện đại là điều kiện đủ để đánh giá sự thành công của một tác phẩm văn học, đó là sự tìm tòi sáng tạo để mang lại một quan niệm mới được diễn đạt dưới một hình thức cũ. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích vẻ đẹp cổ điện và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 1

Chiều tối bài thơ thứ 31 trong tập Nhật kí trong tù. Bài thơ là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cổ xưa và vẻ đẹp hiện đại. Chính sự phối hợp tài hoa ấy đã đem lại sự thành công cho tác phẩm.

Vẻ đẹp cổ xưa là vẻ đẹp có sự tiếp nối tinh hoa của văn học trung đại về cấu tứ, thi pháp, thi liệu. Vẻ đẹp hiện đại là những sáng tạo độc đáo mà chỉ văn học hiện đại mới có. Sự phối hợp này không hề khó, nhưng để tạo thành tính hay, cái đặc sắc thì lại không hề đơn giản. Vậy nhưng bằng ngòi bút tinh ý, bằng tâm hồn rất đỗi thi sĩ, tài hoa Hồ Chí Minh đã có sự phối hợp một cách tài tình chất cổ xưa và hiện đại trong bài thơ này. Tác phẩm mở đầu bằng hai câu thơ:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.

Màu sắc cổ xưa trước hết được thể hiện trong hình ảnh cánh chim. Văn học trung đại hình ảnh cánh chim là thi liệu quen thuộc: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du). Những cánh chim vào thời điểm trời chiều thường gợi thương, gợi nhớ về một quá vãng đã xa. Mặc dù sử dụng thi liệu cổ, nhưng màu sắc hiện đại trong hình ảnh thơ lại rất rõ nét. Nếu như trong thơ xưa những cánh chim thường bay về nơi vô định, gợi sự xa xăm, chia lìa đôi ngả, hoặc gợi lên sự phiêu dạt, không biết đi đâu về đâu. Cánh chim thường chỉ được mô tả ở sự vận động bề ngoài. Thì trong thơ Bác cánh chim bay đi không hề vô phương hướng, mà có mục đích: “quy lâm tầm túc thụ”. Sau một ngày kiếm ăn mệt nhọc chúng tìm về rừng để lấy chỗ nghỉ ngơi. không những vậy người đọc còn cảm nhận được cái bên trong, trạng thái của sự vật. Bác đã đưa cánh chim từ trái đất siêu hình trở về với trái đất thực tại.

Hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh đậm chất cổ xưa, đám mây ấy ta bắt gặp trong câu thơ của Đỗ Phủ “Tái địa phong vân tiếp địa âm” (Đỗ Phủ)…. Ở đây Bác đã có sự tiếp thu hết sức tài tình. Chữ “mạn mạn” vừa gợi thần thái của cảnh, vừa cho thấy phong thái ung dung rất đỗi thi sĩ của người tù, khi nhìn ngắm quang cảnh thiên nhiên. Chòm mây được mô tả “cô vân” tức cô đơn, lẻ loi gợi cho người đọc liên tưởng đến hoàn cảnh của Bác lúc bấy giờ: cô đơn, lẻ bóng. Bức tranh thiên nhiên hai câu đầu vừa cổ xưa, vừa hiện đại, chúng không những đơn thuần là khung cảnh thiên nhiên mà còn là tâm trạng của con người: người tù mệt mỏi sau một ngày dài di chuyển nhưng vẫn có tình yêu thiên nhiên tha thiết, qua đó còn ánh lên sự bản lĩnh, kiên trì của người chiến sĩ cách mạng.

Sơn thôn thiếu nữa ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

Nếu trong thơ cổ thiên nhiên luôn là trung tâm của bức tranh, con người chỉ là một chấm nhỏ trong bức tranh đó:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

Thì đến với thơ Bác lại là một điều ngược lại hoàn toàn. Đây đúng là nét mới mẻ, hiện đại của bài thơ. Con người – thiếu nữa là trung tâm của bức tranh. cô nàng ấy hiện lên thật bình dị, mộc mạc mà vẫn cực kì đẹp đẽ với công việc lao động của tôi. Tuy công việc có phần cực nhọc, vất vả nhưng ấm cúng hơi thở cuộc sống. Hình ảnh người con gái tươi tắn, đầy sức sống đã khiến cho bức tranh mang trong mình một vẻ đẹp nữa, vẻ đẹp của sự khỏe mạnh, tinh thần lạc quan.

Đặc biệt trong câu thơ cuối hình ảnh lò than đã rực hồng, chữ “hồng” là nhãn tự của bài thơ, không những làm bừng sáng bức tranh cuộc sống, mà còn làm bừng sáng của bài thơ. Hình ảnh lò than đúng là tâm điểm của bức tranh. Với hoạt động của con người, với sự xuất hiện của lò than, cuộc sống nơi sơn cước này không thể u tịch, lặng lẽ mà ấm cúng, tràn ngập sức sống. Trong nguyên văn, bài thơ không dùng bất kỳ chữ tối nào để nói về màn đêm đã buông xuống, nhưng khi đọc ta vẫn cảm nhận được sự vận động của thời gian chuyển từ chiều sang tối hết sức tự nhiên. Lấy ánh sáng để nói về bóng tối, lấy ánh sáng rực hồng của lò than để nói về màn đêm đã buông từ lâu, ánh sáng của lò than trong đêm rực rỡ hẳn lên. Hình ảnh lò than đã rực hồng là một hình tượng thể hiện niềm lạc quan tin tưởng của Bác vào con đường cách mạng. Sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng cũng đúng là quy trình vận động tất yếu của cách mạng.

Bài thơ chỉ vẻn vẹn với bốn câu thơ nhưng đã cho thấy sự tài hoa của Bác khi phối hợp giữa nét cổ xưa và hiện đại tạo thành vẻ đẹp hài hòa, đặc sắc cho bài thơ. Bài thơ đã làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Người, tuy ở hoàn cảnh tù đầy nhưng lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống không khi nào vơi cạn, Đồng thời còn ánh lên tinh thần sắt đá, niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai cách mạng của người chiến sĩ cách mạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 2

“Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh có đóng góp rất lớn vào thành tựu của văn học Việt Nam. Những vần thơ được Bác viết chan chứa tình thần dân tộc, lòng yêu giang sơn hoà quyện với tình yêu thiên nhiên, yêu con người lao động. Như Tố Hữu cũng đã từng viết:

“Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Chiều tối là một trong những bài thơ xuất sắc nhất được trích từ tập Nhật kí trong tù. Bài thơ không những thành công trong việc tái hiện chân dung người chiến sĩ cách mạng với tinh thần lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào cách mạng mà còn thể hiện được tài năng nghệ thuật xuất chúng của Hồ Chí Minh khi phối hợp yếu tố cổ xưa và hiện đại trong cùng một bài thơ, mang đến một “hơi thở” mới cho thơ ca Việt Nam.

Thứ nhất, yếu tố cổ xưa trong bài thơ được thể hiện qua những hình ảnh thơ quen thuộc, được sử dụng nhiều trong thơ ca cổ xưa. Đó là cánh chim trong một buổi chiều xa xăm, là áng mây trôi nhẹ lững lờ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Cánh chim mỏi sau ngày dài chao liệng trên bầu trời cũng về rừng ra tìm chốn nghỉ ngơi như con người vậy, sau bao vất vả, mệt nhọc cũng mong có chốn để dừng chân, thư thả. Chòm mây chiều cô độc trôi đi một cách vô định. Cảnh đượm buồn như nỗi lòng người thi sĩ, có mệt mỏi, có buồn thương và cả sự cô đơn lạc lõng nơi đất khách quê người. Bút pháp “tả cảnh ngụ tình” trong thơ cổ cũng được Bác vận dụng đầy sáng tạo, lấy trạng thái của cảnh để bộc lộ những tâm sự, cảm xúc con người, như đại thi hào Nguyễn Du từng nói: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu khi nào”.

Phải chăng, lúc này đây, trên con đường giải lao đầy gian khó, những gông cùm trĩu nặng trên đôi vai cùng trạng thái mất tự do về thân xác cũng khiến Bác có chút mỏi mệt, nỗi buồn vương, ưu tư vẫn còn đấy đấy nặng lòng mà mượn cảnh để nói lên những tâm sự của tôi.

Yếu tố cổ xưa còn được thể hiện qua thời gian nghệ thuật, đó là buổi chiều. những nhà thơ xưa thường chọn buổi chiều để nói về nỗi nhớ và nỗi buồn. Cảnh chiều cũng thường gợi cho con người sự trống trải và nỗi khắc khoải trong lòng. Ở bây, Bác cũng đã chọn chiều tối để bộc lộ cảm xúc, có vẻ như đây là khoảng thời gian thật nhất để nhân vật trữ tình thể hiện rõ những nội tâm của chính mình.

Bút pháp điểm xuyết trong thơ cổ cũng đc Bác vận dụng đầy tinh ý để làm nổi trội nội dung, tầng tư tưởng của bài thơ. Nguyễn Du trong truyện Kiều cũng đã sử dụng bút pháp này để mô tả, làm nổi trội sức sống và vẻ đẹp hài hoà của mùa xuân:

“Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Trong Chiều tối, chữ ‘ hồng” trở thành nhãn tự tạo thành nguồn sáng cho cả bài thơ. Sự xuất hiện của ánh lửa hồng đã xua đi cái lạnh lẽo, trống trải trong lòng người, đồng thời thắp lên ngọn lửa của niềm tin, của sức sống.

Yếu tố hiện đại được tác giả phối hợp nhuần nhuyễn với yếu tố cổ xưa tạo thành nét nổi trội. Yếu tố hiện đại được thể hiện qua tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là một tâm trạng buồn nhưng không bị lụy, luôn lạc quan hướng về phía trước. Dù mệt mỏi nhưng vẫn không ngừng hành động, vẫn sẽ tiếp tục với hành trình của tôi sau nghỉ ngơi. Từ hình ảnh thiên nhiên buồn đến hình ảnh con người lao động trong đời , ánh than rực hồng là sự phát triển mới mang tinh thần mới, tinh thần của niềm tin yêu vào một tương lai tươi sáng cho dân tộc, ngày mà mọi người dân được làm chủ cuộc đời mình, lao động sản xuất giữa bầu trời tự do.

Yếu tố hiện đại còn được thể hiện rất rõ qua hình ảnh con người trong bài thơ, trong thơ cổ, con người thường rất nhỏ xíu thu mình trước thiên nhiên rộng lớn, bao la để đặc tả nỗi cô đơn thì đến với chiều tối, hình ảnh cô em xóm núi hiện lên nổi trội trong lao động, dù công việc rất đỗi bình dị nhưng lại đầy lôi cuốn. sau cuối, tinh thần hiện đại thể hiện qua quan niệm sống, cách sống của tác giả: Mạnh mẽ đối mặt, vượt qua gian khổ, thử thách, đối mặt với hiện tại khắc nghiệt bằng thái độ lạc quan, hướng về tương lai tương sáng. Trong khó khăn, vất vả, dẫu có đôi lúc mệt nhoài với thực tại sống bác không hề khuất phục, vẫn lạc quan với niềm tin lớn lao. Trong khó nhọc Bác lấy thơ ca làm bạn, lấy lý tưởng làm mục tiêu và lấy ý chí để tranh đấu.

Bác đã viết bài thơ “Chiều tối” bằng toàn bộ tình yêu với thiên nhiên, với con người Việt Nam. Từng khoảnh khắc của thời gian luôn được Bác trân trọng, từ “Giải đi sớm”, đến “Chiều tối” hay “Ngắm trăng” đều thấy ở Người một tâm hồn rộng lớn với bao phẩm cách cao đẹp. Thơ Bác mãi là ánh sáng soi rọi cho từng người, mỗi quê dân tộc bước đi và phát triển.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 3

ồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, là người đã chèo lái con thuyền Cách mạng VNĐ thời Người cũng là một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hoá trái đất. Tuy văn chương không phải sự nghiệp chính của cuộc đời Bác nhưng Hồ Chủ tịch đã để lại cho nền văn học nước nhà một trọng lượng lớn những tác phẩm văn thơ có giá trị. Trong số đó, “Nhật kí trong tù” là một tập thơ đặc sắc cả về mặt nội dung và nghệ thuật đặc biệt là bài “Chiều tối” với sự phối hợp hết sức hài hòa giữa nét cổ xưa và hiện đại.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”

“Nhật kí trong tù” là tập thơ gồm 134 bài thơ chữ Hán được sáng tác trong tầm thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và đày ải đi khắp những nhà lao. Tập thơ đã thể hiện một cách sinh động phong thái thơ Hồ Chí Minh với sự phối hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại. Trước hết, nói tới màu sắc cổ xưa trong thơ là nói tới những yếu tố về mặt nghệ thuật và nội dung có sự tác động rõ nét của văn chương phương Đông mà chủ yếu là thơ Đường, còn màu sắc hiện đại là những cách tân về mặt nghệ thuật và nội dung mang tinh thần của thời đại. Lý giải về điều này trong thơ Bác, ta rất có thể hiểu, Hồ Chí Minh vốn xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, cha là nhà Nho, mẹ là người rất am hiểu ca dao, dân ca, nên Bác đã có những kế thừa hết sức tự nhiên. Bên cạnh đó với việc từng học trường Tây và có hơn 30 năm bôn ba quốc tế, Bác đã học hỏi không ít từ văn học phương Tây và đưa chúng vào trong những tác phẩm của tôi. Và với sự tài hoa trong ngòi bút, nét cổ xưa và hiện đại ấy đã được phối hợp hết sức hài hoà.

Trước tiên, nét cổ xưa của bài thơ được thể hiện ở văn tự chữ Hán và thể thơ thất ngôn tứ tuyệt – một thể thơ tiêu biểu và quen thuộc của thơ Đường Trung Quốc, thể thơ đòi hỏi sự hàm xúc cô đọng, đó là lý do vì sao bài thơ với chỉ vỏn vẹn 28 chữ cũng đã mô tả được cảnh vật thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, thi đề của bài thơ – cảnh vật thiên nhiên – cũng là một thi đề khá quen thuộc và được những thi nhân xưa sử dụng khá nhiều.

“Chim mỏi về rừng tìm chỗ ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không”

Câu thơ mở ra khung cảnh rừng núi lúc về chiều. Cảnh vật có phần hiu quạnh được tác giả gợi ra qua biện pháp ước lệ quen thuộc của thơ cổ và đã nói lên chính xác hoàn cảnh của Bác. Chỉ bằng hai nét bút và điểm nhìn hướng lên cao, người tù đã dễ dàng thu vào tầm mắt mình hình ảnh “cánh chim bay” và “chòm mây trôi”. Hai hình ảnh xuất hiện tự nhiên, hài hòa và đăng đối. Bút pháp chấm phá, nghệ thuật ước lệ tượng trưng được vận dụng sáng tạo. không tồn tại bất kì từ ngữ nào chỉ thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được thời gian lúc này là chiều tối. Nhìn chim bay, mây trôi ta cảm thấy bầu trời lúc này bao la hơn, mênh mông, rợn ngợp hơn, nỗi cô đơn cũng vì thế mà tăng theo, cánh chim nhỏ nhoi cũng theo vậy mà nhỏ xíu, đơn độc hơn. Bóng tối có vẻ như theo cánh chim phủ lên vạn vật. Câu thơ gợi cho ta nhớ tới hình ảnh cánh chim trong thơ xưa khi tả cảnh chiều tối. Như Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã viết:

“Chim hôm thoi thót về rừng”.

Hay bậc nữ lưu tài danh của dân tộc – bà Huyện Thanh Quan cũng viết:

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”.

Hoặc Lý Bạch – nhà thơ lớn của Trung Quốc viết trong “Độc tọa Kính Đình Sơn”:

“Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn”.

Nếu cánh chim xưa của Lí Bạch như bay vút vào không gian, tan biến vào vĩnh hằng thì cánh chim trong thơ Bác chỉ chuyển trạng thái từ bay sang nghỉ ngơi để rồi lại tiếp tục bay. Đến đây, hình ảnh cánh chim lẻ loi và chòm mây cô đơn có vẻ như đang mang theo nỗi lòng tác giả đi tới khắp mọi nơi mà Người đã đi qua cùng với sự đày ải cơ cực, tuy nhiên Người đã không san sẻ nỗi buồn đau của tôi cho cảnh vật mà Người lại đồng cảm, hòa hợp với thiên nhiên tạo vật xung quanh mình. Đằng sau bức tranh phong cảnh ấy hiện lên một phong thái ung dung của một con người tuy bị mất tự do nhưng vẫn triển khai chủ bản thân trong mọi tình huống. Chính những điều này đã cho thấy vẻ đẹp hiện đại của thơ Bác chứa đựng và hoà hợp ngay trong những thi liệu đậm chất cổ xưa. Đến hai câu thơ sau, bức tranh sinh hoạt thường nhật của con người nơi xóm núi đã được tái hiện rất chân thực.

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”

Nếu hai câu thơ đầu có phần ảm đạm hiu quạnh thì hai câu thơ sau với hình ảnh “cô em xóm núi xay ngô tối” đã toát lên một vẻ đẹp khoẻ khoắn, tươi tắn. Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng truyền thống, dùng hình ảnh lò than để nói về bóng tối của không gian vùng sơn cước khi màn đêm buông xuống. Hình ảnh thơ vừa giản dị vừa độc đáo, làm nổi trội nét mới mẻ, hiện đại của bài thơ. Bên cạnh đó, hình tượng thơ cũng luôn vận động, hướng về tương lai, về ánh sáng: hình ảnh cánh chim bay, hình ảnh chòm mây trôi, hình ảnh người lao động làm việc hăng say, trong cả thời gian cũng vận động từ chiều tối cho tới tối hẳn. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng vận động từ cô đơn, buồn bã sang vui tươi, hồ hởi. Cách mô tả và quan sát của tác giả từ cao đến thấp, từ xa đến gần. Nhãn tự “hồng” của bài thơ có sức lan tỏa lớn. Sắc hồng nóng ấm của lò than đã xua tan đi bóng đêm và sự lạnh lẽo của núi rừng khi chiều tối, nhân lên thú vui niềm lạc quan của con người, củng cố và mài sắc thêm ý chí của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày nơi xa xứ.

Bằng sự tài hoa trong ngòi bút của Hồ Chí Minh, vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại đã được hòa quyện hết sức hài hoà và nhuần nhuyễn, tạo thành phong thái thơ ca độc đáo của Bác và góp phần giúp người đọc hình dung đầy đủ và rõ nét chân dung Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, những biện pháp nghệ thuật được sử dụng rất sáng tạo: bút pháp chấm phá, ước lệ tượng trưng, vẽ mây nẩy trăng, lấy điểm tả diện, tả thực. Đọc bài thơ, chúng ta cũng cảm nhận được rằng, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh vẫn luôn lạc quan, ung dung tự tại, luôn hướng về phía trước, về tương lai, luôn biết làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh gian khó nhất.

Bài thơ bốn câu thơ vỏn vẹn 28 chữ với sự tài tình trong ngòi bút Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công bức tranh cảnh vật thiên nhiên và chân dung con người lao động nơi xóm núi. Đồng thời vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ Chiều tối đã mang đến cho tác phẩm cả nét truyền thống và mới mẻ, để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc cho tới mãi về sau này.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 4

Thế nào là cổ xưa? Chữ “cổ xưa” ở đây được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất là từ chỉ những tác phẩm văn học đã được thử thách qua thời gian, được công nhận như mẫu mực, cổ xưa là những yếu tố/ tác phẩm nghệ thuật đã đạt tới sự hoàn thiện cao về mặt thẩm mỹ. Thứ hai, cổ xưa là một tính từ chỉ lối viết, cách thể hiện trở thành một truyền thống văn học. Như vậy, phạm trù cổ xưa thuyết minh cho tính ổn định, bền vững, tính gần gũi quen thuộc, giúp ta hiểu thêm sự gặp gỡ, đồng điệu giữa những tâm hồn và sự uyên bác của một nhân cách văn hoá.

Vậy, đâu là vẻ đẹp cổ xưa của thi phẩm Chiều tối? Nói rộng ra là vẻ đẹp cổ xưa của Nhật ký trong tù? Bài thơ Chiều tối được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Đây là thể thơ có ưu thế trong mô tả tâm trạng, thường tạo ý ở ngoài lời, xây dựng hình ảnh tượng trưng ước lệ, và biểu lộ chủ đề ở một vài nhãn tự. Nhà văn Pháp, Roger Denux từng nhận xét: “Thơ Người nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, không phô diễn mà như cố khép lại trong đường nét để cho người đọc tự thưởng thức. Phải yên lặng một mình đọc thơ Người. Phải thỉnh thoảng ngừng lại để suy nghĩ mới cảm thấy hết những âm vang của nó và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài mãi”. toàn bộ những đặc trưng đó được thể hiện rõ nhất trong “Chiều tối”.

Trước hết phải khẳng định rằng, cái tứ của bài thơ nằm ngay ở nhan đề: “Chiều tối”. Cách thức triển khai tứ thơ ấy của tác giả tạo ra cảm giác thời gian đang vận động: trời chiều đang chuyển vào đêm, cô em xóm núi xay ngô xong thì bếp lò cũng đỏ rực. Xét theo mạch thơ chữ “hồng” giữ vai trò quan trọng. Chữ“ hồng” gợi không gian ấm cúng, tươi vui yên bình, chất chứa một sức sống mạnh mẽ và làm cho không gian thơ bừng sáng. Tư tưởng nhân đạo và cái nhìn nhạy cảm tinh ý, lạc quan của Bác thể hiện triệu tập trong từ này. Do vậy, rất có thể xem, chữ “hồng” là một nhãn tự.

“Chiều tối” gặp gỡ với cổ thi trong nghệ thuật kết cấu câu thơ. Cặp câu nào cũng hài hoà đăng đối. Đó là sự đối lập giữa cánh chim bay mỏi với chòm mây trôi nhẹ, giữa không gian hữu hạn (chốn ngủ) với không gian vô hạn (từng không), đối lập giữa tối và sáng, giữa hai câu thơ đầu mô tả cảnh vật hắt hiu, tàn tạ với hai câu thơ sau mô tả con người lao động khỏe mạnh.

“Chiều tối” là bài thơ chữ Hán. Từ ngữ Hán Việt tự nó tạo ra vẻ đẹp cổ xưa, trang trọng, với hàm nghĩa phong phú, giàu sức gợi. Cảnh thơ trong Chiều tối thâu tóm được linh hồn tạo vật, ở đấy nhân vật trữ tình giàu tình cảm đối với thiên nhiên, hoà hợp tâm hồn với thiên nhiên vũ trụ. Bác không để cho cảnh ngộ đau khổ trói buộc cảm xúc của tôi; hồn thơ của Bác vẫn rung động trước thiên nhiên vùng sơn cước đẹp đẽ. Có lẽ vì thế ta bắt gặp sự tương đương giữa cảnh ngộ tâm trạng của người tù – thi sĩ với trạng thái, hướng vận động của cánh chim trời bay về tổ và đám mây trôi vẫn chưa chắc chắn dừng nơi nào trong thời khắc một buổi chiều tàn. Trong thơ xưa, chẳng hạn như thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… cảm xúc đó cũng được thể hiện rõ nét. Nhìn chung cảm hứng trước thiên nhiên và ngôn ngữ thơ góp phần tạo tên màu sắc cổ xưa của bài thơ này.

Màu sắc cổ xưa của bài thơ được thể hiện ở cả thi liệu. Người đọc đã từng gặp trong ca dao, thơ trung đại hình ảnh đám mây trôi qua ngang trời, cánh chim chiều đập cánh vội. Đi giữa miền thơ, ta đã quen lắm với cảnh tượng ở một khung trời miên viễn nào đó, chợt xuất hiện cánh chim lẻ loi. Ngàn đời vẫn vậy xui khiến con người nhớ tới cảnh ngộ cô đơn của tôi, từ đó thấm thía về sự xa xăm phiêu bạt của đời người. Thi nhân xưa thường đặt hình ảnh cánh chim trong tương quan với bầu trời, đám mây, ngọn gió. Đặt trong tương quan với bầu trời để cảm hết được cái rộng dài hun hút của không gian, trong tương quan với đám mây để gợi cảm giác chia li, và phải đặt trong quan hệ với ngọn gió mới thấy hết được cái khó khăn, vất vả của cánh chim đang đập cánh vội (Thơ Vương Bột, Lí Bạch, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan…)

Trong phép làm thơ Đường luật, câu thơ đầu của bài thơ thường phải nói rõ được đề tài. Đề tài của bài thơ là “chiều tối”. Câu khai của bài thơ quả thực đã giới thiệu được rất cụ thể khoảnh khắc thời gian đặc biệt trong ngày. Chiều tối vừa là thời gian vật lí vừa là thời gian tâm trạng. Hình ảnh cánh chim bay về tổ ở đây không thể thuộc về một thời gian nào khác khoảnh khắc ngày tàn. Câu thừa của bài thơ tiếp tục làm nổi trội không khí của buổi chiều muộn nơi xóm núi. Thực ra mây trên trời lúc nào cũng có thể có, song phải là đám mây với dáng vẻ hiu hắt, chậm rãi riêng biệt đó mới thích hợp với không khí buổi hoàng hôn. Vẻ đẹp cổ xưa của bài thơ được tạo thành bởi đề tài.

Nhưng có lẽ việc sử dụng bút pháp nghệ thuật quen thuộc trong thi ca xưa mới là minh chứng sinh động nhất về vẻ đẹp cổ xưa đặc sắc của tác phẩm Chiều tối. Bút pháp chấm phá tinh ý tạo ra những câu thơ nhiều tầng nghĩa, mở ra nhiều kiểu liên tưởng trong tâm tư người đọc, cùng bút pháp tả thực tự nhiên giàu chất họa khiến cho cảnh vật hiện lên trong bài thơ với những đường nét rất có thần:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

Trong nguyên tác không tồn tại chữ “tối’. Câu thơ dịch thêm từ “tối” làm cho ý thơ hơi lộ. Dụng ý của tác giả chỉ muốn người đọc cảm thấy trời tối thôi chứ không thông báo trực tiếp thời gian, không gian tối. Dùng ánh sáng để tả bóng tối, không nói tối mà tả được tối đấy là biểu lộ của thủ pháp “hoạ vân hiển nguyệt” thường thấy trong thơ Đường. Âm vang của thơ Đường trong Chiều tối còn biểu lộ ở chỗ, nhà thơ xây dựng những mối quan hệ, người đọc phải bằng liên tưởng của tôi khám phá ra sự thống nhất giữa chủ thể trữ tình và thiên nhiên.

Chiều tối cũng sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Cảnh vật thiên nhiên như cùng tâm trạng với con người, đồng điệu với tâm hồn con người. Câu khai phác họa cánh chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn giờ đang về rừng tìm chốn đậu. Hình ảnh đó gợi ta nhớ tới một người tù bị cùm xích, bị giải suốt một ngày ròng rã đương khao khát chốn nghỉ ngơi yên bình. Thêm nữa, chi tiết chòm mây cô đơn giữa một không gian vắng tanh… rất tương ứng với cảnh ngộ của chủ thể trữ tình vẫn chưa chắc chắn dừng lại, hay tới nhà lao nào. Cánh chim, chòm mây vừa là đối tượng của niềm thương cảm vừa là biểu lộ bên phía ngoài của nỗi buồn trong lòng người tù trên con đường đày ải. Hai câu cuối cảm hứng thơ chuyển sang một hướng khác: cảnh thiên nhiên buồn nhường chỗ cho cảnh đời bình dị, tươi sáng.

Tâm trạng, hướng nhìn của nhà thơ cũng đổi thay theo từ buồn sang vui. Nếu thiên nhiên trong hai câu thơ đầu nói hộ tâm trạng của Hồ Chí Minh sau một ngày chuyển lao mệt mỏi, thì bức tranh phong cảnh trong hai câu kết lại gói ghém khát vọng tự do. Nhìn chung bức tranh ngoại cảnh được nội tâm hoá trở thành tâm cảnh. Nguyễn Du từng nói “người buồn cảnh có vui đâu khi nào” trong trường hợp này, điều đó rất đúng.

Trong thơ xưa gắn với thời gian buổi chiều thường có hình ảnh một người lữ thứ tha hương (Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà,Hoàng Hạc lâu…). Nhân vật trữ tình của bài thơ Chiều tối là một con người như vậy: cô đơn mỏi mệt, trong lòng không lúc nào nguôi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ đồng bào, đồng chí (câu 1). Tác giả không cần tả nhiều nhưng vẫn gợi được ở người đọc nhiều cảm xúc. Bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh kín đáo thể hiện niềm khát khao được tự do, sum họp, được trở về quê của người tù trên đất khách. Cách cấu tứ của bài thơ, vì thế, cũng mang màu sắc cổ xưa.

“Chiều tối” không những có màu sắc cổ xưa mà còn thể hiện tinh thần hiện đại.

Thế nào là hiện đại? Tính hiện đại của tác phẩm văn chương biểu lộ phong phú, trước hết và có lẽ rõ rệt nhất trong sự đổi mới tạo ra những nét riêng, không lặp lại. Một tác phẩm văn chương mang trong mình tinh thần của thời đại, phản ánh quan điểm nghệ thuật, hệ giá trị và ý thức tư tưởng của con người trong xã hội mà nó nảy sinh, thậm chí vượt trước thời đại … đều được gọi là tác phẩm mang màu sắc hiện đại. Phạm trù hiện đại giúp ta phân biệt trái đất nghệ thuật này với vũ trụ nghệ thuật khác, xác định cá tính sáng tạo trong văn học ở những thời đại, giai đoạn không giống nhau.

biểu lộ rõ rệt nhất của tính hiện đại trong bài thơ là hai câu cuối. Thơ tứ tuyệt Đường luật tạo bất ngờ cho người đọc ở câu chuyển. Câu chuyển bất ngờ nhưng phải tự nhiên hợp lí. Bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh đạt được phẩm chất cổ xưa này. Sự chuyển đổi bất ngờ thể hiện ở chỗ: mạch thơ vận động hướng về mặt đất, sự sống và ánh sáng, thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng. Nói tính hiện đại được thể hiện ngay trong vẻ đẹp cổ xưa là như vậy.

Nếu ở thơ cổ con người thường ẩn đi trong thiên nhiên,thiên nhiên là chủ thể, thì con người và sự sống trong thơ Bác lại hiện ra, chiếm vị trí chủ thể trong bức tranh phong cảnh. Con người lao động được khắc hoạ qua cái nhìn lạc quan của Bác có vẻ đẹp bình dị khoẻ khoắn, trở thành nhân vật chính của bức tranh. Người đọc nhận thấy: Trong bất kì hoàn cảnh nào, chủ thể trữ tình cũng giữ được phong thái ung dung tâm hồn phóng khoáng, có vẻ như tác giả quên hẳn cảnh ngộ của tôi để đồng cảm với nỗi vất vả, với thú vui nhỏ nhoi, đời thường của người lao động. Hình ảnh cô nàng xóm núi và lò than rực hồng tỏa ấm, toả sáng là cảnh của một tâm trạng hào hứng, tươi vui. Ánh sáng lò lửa nhỏ không những sưởi ấm tâm hồn Bác lúc bị lưu đày, mà còn có tác dụng nhóm lên trong lòng người đọc niềm tin bền chắc vào cuộc sống. Đó là biểu lộ của chủ nghĩa nhân đạo cao quý, biểu lộ độc đáo của chất thép.

Điểm nhìn nghệ thuật của bài thơ cũng khá tiêu biểu cho phong thái thơ hiện đại của Hồ Chí Minh. Trong thơ xưa không gian trên cao chiếm ưu thế. Nhưng ở “Chiều tối” những quan sát về mặt đất dần thay thế hướng nhìn lên bầu trời. Thơ của Bác thường triệu tập thể hiện mọi buồn vui trong cuộc sống con người, Bác đưa vào cảnh thiên nhiên vĩnh cửu của thơ xưa một nội dung xã hội cụ thể.

Chiều tối viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt nhưng cơ bản không theo lối tư duy hướng về những mẫu mực cổ xưa. Ở đây tác giả hướng người đọc vào tương lai và hiện thực trước mắt, hướng về quần chúng lao động. Theo Hoài Thanh, chữ “hồng” trong câu thơ kết có hai nghĩa, nghĩa đen là màu sắc thực của ánh sáng lò than, nghĩa bóng là màu cách mạng, màu của thành công, của tương lai. Nếu thiên về cách hiểu sau, chúng ta thấy sự vận động của hình tượng thơ, xét đến cùng là sự vận động của cách mạng. Tính hiện đại của bài thơ là ở đó. Vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ Chiều tối cùng hòa quyện rồi tạo thành sức sống lâu bền, sức hấp dẫn của tập thơ Nhật kí trong tù nói chung và bài thơ này nói riêng.

Hai câu thơ đầu tả không gian núi rừng rộng lớn, nhưng lại gợi thời gian chiều tối. Giọng the nhẹ nhàng, nhịp thơ thong thả. Hình ảnh thơ đậm tính ước lệ, người đọc tưởng như tác giả tả cảnh theo công thức có sẵn cứ nói tới chiều thì nhắc tới chim bay về tổ, mây trôi lững lờ… Thực ra, sự xuất hiện của hình ảnh cánh chim mỏi mệt và chòm mây cô đơn rất hợp với qui luật tự nhiên của cảnh chiều, đồng thời hài hòa với tâm trạng của người tù sau một ngày đi đường mệt mỏi đang bơ vơ nơi đất khách quê người. tức là ở đây, tác giả mô tả cảnh thiên nhiên một cách chính xác đúng như cảnh thật mà mình quan sát, cảm nhận được. Qua những nét vẽ thấm đượm phong vị Đường thi ấy, ta vẫn thấy ánh lên nét đẹp riêng của hồn thơ Hồ Chí Minh. Thiên nhiên trong thơ Bác không chết lặng mà chứa đựng biết bao dấu hiệu của sự sống. Giữa bầu trời cao rộng, chòm mây dẫu nhỏ xíu đơn độc nhưng vẫn cứ chậm trôi. Nó không đứng lặng chơi vơi cả nghìn như đám mây trên “Lầu Hoàng Hạc”. Hình ảnh cánh chim chiều cũng thế, dẫu mệt mỏi vẫn không mất hút vào vô tận như trong thơ cổ:

“Nghìn non chim hết vẫy vùng

Vắng tanh muôn nẻo tuyệt không dấu người

Áo tơi nón lá ông chài

Con thuyền giữa tuyết ngồi hoài buông câu”

(Giang tuyết – Liễu Tông Nguyên)

Cánh chim trong thơ Liễu Tông Nguyên mất hút giữa không gian bao la cực kì, có vẻ như nó không hề tìm thấy nơi trú ẩn giữa ngàn núi trùng điệp. Trong Chiều tối của Nguyễn Ái Quốc, cánh chim mệt mỏi, nhưng vẫn có đường bay xác định, nó quay trở về vùng đồi núi quen thuộc tìm tổ ấm. Chủ thể trữ tình trong Chiều tối như quên mình là tù nhân, quên nỗi nhọc nhằn vất vả để thả mình vào thiên nhiên, yêu thương trìu mến với cảnh vật, nâng niu, thiết tha với từng dấu hiệu của sự sống. Một sức mạnh tinh thần như thế chỉ rất có thể bắt nguồn từ một tâm hồn chiến sĩ.

Xét về tứ thơ. Ta thấy, tứ thơ được mở ra bằng khung cảnh vắng tanh, thấm đẫm nỗi buồn, nỗi cô đơn của người xa xứ. Người đọc tưởng sẽ khép lại bằng hình ảnh bóng tối, bằng niềm thương thân, than thân, xót thân của chủ thể trữ tình, nhưng thật bất ngờ: cảnh tràn đầy hơi ấm của tình đời, tình người toả lan từ hồn thơ Hồ Chí Minh. Từ hai câu đầu đến hai câu kết không những là sự chuyển cảnh mà còn thay đổi về bút pháp: từ ước lệ sang tả thực, hình ảnh thơ cổ xưa sóng đôi với vẻ đẹp hiện đại, cái giản dị chân thực của cuộc sống đời thường hài hoà với cái trang trọng, thanh cao. Nói khác đi, Chiều tối góp phần xác nhận một bản sắc thơ độc đáo Trong số đó có sự hài hoà tinh ý giữa thi pháp văn học phương Đông cổ xưa với những dòng chảy của thi ca hiện đại. Hoàng Trung Thông rất đúng khi cho rằng: “Thơ Bác rất Đường và lại không Đường”.

Vẻ đẹp cổ xưa và tinh thần hiện đại của thi phẩm thống nhất trong một kiểu tư duy nghệ thuật mới. Nếu không phải là một người ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán, thơ phú Đường Tống, hấp thụ nhuần nhuyễn văn hoá phương Đông, không phải là một người hoạt động cách mạng, một kiểu nhà văn mới, nhà văn chiến sĩ am hiểu văn hoá phương Tây, thì chắc chắn trái đất thi ca sẽ không tồn tại được vẻ đẹp riêng, độc đáo đó.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 5

Tuy văn chương không phải là sự nghiệp chính của cuộc đời nhưng với di sản thơ ca phong phú để lại cho đương thời và hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hóa lớn không những của Việt Nam mà của toàn nhân loại. Rất nhiều bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn Đường luật, Trong số đó sự phối hợp hài hòa giữa màu sắc cổ xưa và hiện đại đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ Người. Điều đó thể hiện rõ nét qua nhiều bài thơ, tiêu biểu là bài “Mộ” – “Chiều tối” rút từ tập “Nhật ký trong tù”, tập thơ sáng tác trong hoàn cảnh tác giả bị nhốt tận nhà lao của chính quyền Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943.

nói tới màu sắc cổ xưa trong thơ là nói tới những yếu tố về nội dung và thi pháp có sự tác động rõ nét của thơ phương Đông – chủ yếu là thơ Đường Trung Quốc, vốn được coi là mẫu mực về đề tài, thể loại, bút pháp, thi liệu. Do đâu thơ Hồ Chí Minh lại đậm đà chất cổ xưa? Bác vốn xuất thân từ một gia đình Nho học. Ông ngoại và phụ thân của Bác vốn là những bậc túc nho nổi tiếng đương thời nên người con ưu tú của gia đình, con người Việt Nam đẹp nhất ấy đã tiếp thu, kết tinh được vẻ đẹp truyền thống của nền văn hóa cổ phương Đông. Với tâm hồn phong phú, trí tuệ anh minh, lại giỏi chữ Hán và am hiểu sâu sắc thơ Đường, thơ Người vì thế đậm đà chất cổ xưa. Điều đó được thể hiện: giàu cảm hứng với thiên nhiên, bút pháp chấm phá như ghi lấy linh hồn của tạo vật, ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc ý tại ngôn ngoại. Bên cạnh đó, đã sống và làm việc, tiếp xúc với văn minh phương Tây, hồn thơ ấy rất sáng tạo và hiện đại, biểu lộ ở : tính chất dân chủ của đề tài, hình tượng thơ luôn vận động khỏe mạnh hướng về ánh sáng và tương lai, chủ thể trữ tình hòa hợp với thiên nhiên nhưng không là ẩn sỹ mà là chiến sỹ. Điều đáng nói là chất cổ xưa và hiện đại luôn hài hòa trong thơ của Hồ Chí Minh mà bài thơ Chiều tối là một sáng tác tiêu biểu.

Trong bài, mỗi hình ảnh thơ luôn có sự vận động phối hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ xưa và bút pháp hiện đại. Hình ảnh tuy mang dáng dấp của thi liệu thơ cổ nhưng ý thơ, cảm hứng thơ và nhân vật trữ tình lại hoàn toàn hướng về ánh sáng, hướng tới thiên nhiên và cuộc sống con người. Hai câu thơ đầu mở ra không gian cảnh núi rừng khi chiều tối:

Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Cảnh được gợi lên qua bút pháp ước lệ quen thuộc của thơ cổ đồng thời nói lên thật đúng hoàn cảnh của Bác và mang những nét mới. Người đọc rất có thể hình dung cảnh người tù đang bị áp giải ngẩng mặt lên trời quan sát cảnh vật, nhận thấy cánh chim bay và chòm mây trôi ngang qua bầu trời. Cảnh đó phảng phất một nỗi buồn hiu quạnh. Nửa đầu bài tứ tuyệt này, người đọc được ngắm nhìn một bức tranh thiên nhiên có đường nét cánh chim bay tìm về tổ, có hình ảnh chòm mây trôi lững lờ. Những hình ảnh này xuất hiện thật tự nhiên, vừa song hành vừa đăng đối. không tồn tại một chữ nào chỉ thời gian nhưng người đọc cảm nhận ngay được thời gian lúc này là chiều muộn. Chỉ bằng mấy nét chấm phá, tả rất ít nhưng lại gợi nhiều, tác giả tái hiện được cả linh hồn của cảnh vật: Cánh chim bay về rừng tìm chốn ngủ với dáng điệu mỏi mệt và đám mây lẻ loi trôi chầm chậm giữa lưng trời. Nghệ thuật đối ngẫu, một nét đặc trưng của thơ cổ, càng làm nổi trội dáng chim nhỏ nhoi và vũ trụ rộng lớn lúc hoàng hôn. Cánh chim ấy có vẻ như mang bóng tối đang phủ dần lên cảnh vật. Câu thơ mang đậm phong vị cổ thi. Bởi khi tả cảnh chiều tối, những thi nhân xưa vẫn thường dùng hình ảnh cánh chim.

Nguyễn Du, ngôi sao sáng sáng chói trong bầu trời thơ ca Việt Nam thời Trung đại, trong kiệt tác Truyện Kiều đã viết: “Chim hôm thoi thót về rừng”. Và Bà Huyện Thanh Quan, bậc nữ lưu tài danh của dân tộc sống ở thế kỷ XIX, trong thi phẩm “Chiều hôm nhớ nhà” cũng viết: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”. Những áng cổ thi ấy đều dùng cánh chim tả cảnh chiều tà buồn vắng, hiu quạnh. Lí Bạch, bậc Tiên thi đời Đường ở Trung Quốc khi tả không gian trong bài Độc tọa Kính Đình sơn đã viết: “Chúng điểu cao phi tận – Cô vân độc khứ nhàn” tức là: những loài chim bay cao hết/ Đám mây cô đơn nhàn rỗi trôi. Cánh chim của Lí Bạch xưa có vẻ như bay vút vào không gian, như tan biến vào cõi vĩnh hằng. Còn cánh chim trong thơ Bác không bay đi hết, nó chỉ chuyển trạng thái từ bay sang ngơi nghỉ để rồi lại tiếp tục chu trình tuần hoàn của sự sống. Còn hình ảnh chòm mây trôi nhẹ, lời thơ Nam Trân dịch đã uyển chuyển linh hoạt nhưng vẫn vẫn chưa lột tả được chữ “cô vân” – đám mây lẻ loi và vẫn chưa thể hiện được ý nghĩa sâu sắc của từ láy “mạn mạn” trong nguyên tác. Điều đó chứng tỏ ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh cực kì hàm súc.

Ở đây, cánh chim bay mỏi và chòm mây cô đơn có vẻ như mang theo cả nỗi lòng của tác giả, một người tù đang bị đày ải “giải tới giải lui” khắp mười ba huyện ở tỉnh Quảng Tây, nơi đất khách quê người lạ lẫm – có hôm tới 53 cây số một ngày – phía trước lại là một nhà tù khác đang chờ đón. Thế nhưng tác giả không san sẻ cho cảnh vật nỗi niềm buồn đau của cảnh ngộ mình đang phải từng trải. Trái lại, Người đã quên mình để sẻ chia, đồng cảm, hòa hợp với thiên nhiên tạo vật xung quanh. Đằng sau bức tranh phong cảnh ấy là một phong thái ung dung của một con người đang khao khát tự do, tuy bị mất tự do nhưng vẫn triển khai chủ mình, làm chủ hoàn cảnh ở mọi tình huống. Cũng chính điều này còn cho thấy vẻ đẹp hiện đại của thơ Hồ Chí Minh chứa đựng và hòa hợp ngay trong những thi liệu thơ đậm chất cổ xưa. Phần sau của bài thơ đã tiếp nối mạch thơ ở phần trên thật tự nhiên, tái hiện bức tranh lao động và sinh hoạt thường nhật của con người nơi xóm núi.

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng)

Nếu bức tranh thiên nhiên phần đầu bài thơ có phần ảm đạm, buồn vắng quạnh thì phần thơ cuối này hoàn toàn ngược lại: cô nàng xóm núi xay ngô bên bếp lửa đã toát lên một vẻ đẹp khỏe mạnh, tươi tắn và ấm cúng. Điều thú vị là tác giả đã dùng nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng, lấy ánh sáng của lò than để nói về bóng tối của không gian vùng sơn cước lúc màn đêm buông xuống. Trời không tối, làm sao thấy được hình ảnh “lô dĩ hồng”. Hình ảnh thơ này thật bình dị và cũng rất sáng tạo, thể hiện nét mới, chất hiện đại của bài thơ. Hơn nữa trong bài, hình tượng thơ không tĩnh tại như thường gặp trong thơ cổ mà có sự vận động hướng về ánh sáng, về tương lai. Bài thơ rất phong phú về sự vận động: vận động của cánh chim, vận động của chòm mây, vận động của con người đang làm việc hăng say. Và trong cả thời gian trong bài cũng vận động từ chiều muộn cho tới tối hẳn. Tâm trạng nhân vật trữ tình cũng có thể có sự vận động: từ mỏi mệt, lẻ loi, lạnh lẽo sang vui tươi, ấm nồng cùng cảnh vật và con người.

Cách mô tả và quan sát trong bài của tác giả từ hướng ngoại sang hướng nội, từ cao đến thấp, từ xa đến gần. Trong thi phẩm, chữ “hồng” đúng là nhãn tự, là điểm sáng của cả bài thơ có sức lan tỏa lớn. “Lô dĩ hồng” đã diễn tả được thời gian vận động rất tự nhiên của cảnh vật. Sắc hồng của lò than đang đượm đã xua đi bóng đêm và sự lạnh lẽo của núi rừng lúc chiều tối, lan tỏa hơi ấm ra xung quanh, nhân lên thú vui, niềm lạc quan của con người, nó củng cố và mài sắc thêm ý chí của người chiến sỹ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày nghiệt ngã nơi xa xứ. Nghệ thuật ở hai câu cuối bài còn có một nét đặc sắc khác rất đáng để lưu ý. Giữa câu thơ thứ ba và câu bốn có những cụm từ lặp lại theo như hình thức đảo ngược: “ma bao túc” và “bao túc ma hoàn”. Hình thức này đã tạo thành kết cấu vòng tròn giữa hai câu thơ, gợi lên sự cảm nhận về vòng quay đều đều của chiếc cối xay ngô và từ vòng quay ấy gợi lên sự luân chuyển của thời gian tuần tự

Trước cảnh vật và cuộc sống con người nơi xóm núi, trong lòng tác giả dâng lên dạt dào cảm xúc. Qua đó, người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh: tha thiết yêu thiên nhiên, cuộc sống, con người. Hai câu thơ sau khiến người đọc cực kì cảm động bởi đã ghi lại cảnh sinh hoạt quen thuộc, bình dị của một gia đình nơi xóm núi. Điều đó chứng tỏ trong hành trình hoạt động cách mạng, toàn tâm toàn trí vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, nhưng trong trái tim Bác Hồ vẫn có một khoảng dành riêng cho tình cảm gia đình. Về tấm lòng yêu đời của Người ở hai câu thơ cuối, Hoài Thanh đã nhận được xét: “Một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn, vất vả mà vẫn ấm cúng, đáng quý, đáng yêu. Những hình ảnh như thế không thiếu gì chung quanh ta nhưng thường nó vẫn trôi qua đi. không tồn tại một tấm lòng yêu đời sâu sắc không thể nào ghi lại được”.

Chiều tối chỉ vẻn vẹn bốn câu thơ thất ngôn song đã cho thấy tâm hồn cực kì cao đẹp và tài năng văn chương của Bác. Sự phối hợp hài hòa giữa bút pháp cổ xưa và hiện đại đã mang đến cho bài thơ một vẻ đẹp vừa truyền thống vừa mới mẻ. Đây cũng đúng là một trong những yếu tố làm nên đặc sắc nghệ thuật thơ Đường luật của Hồ Chí Minh – con người của tương lai ấy – luôn hướng về thiên nhiên, cuộc sống, con người với sự đồng cảm và trân trọng “Nâng niu toàn bộ chỉ quên mình”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 6

Tập Nhật kí trong tù được sáng tác trong quãng thời gian đặc biệt nhạy cảm đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đó là thời điểm người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và đày ải đi khắp những nhà lao. Vì vậy, trong tập nhật ký, có nhiều bài nói về chuyện đi đường, cảnh chuyển lao, khi sáng sớm, lúc chiều tối, khi đi thuyền, khi đi bộ… trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì bài thơ giải tù cũng làm ngời lên vẻ đẹp thơ Bác và vẻ đẹp tâm hồn Bác. Bài thơ Chiều tối thuộc trong số những bài thơ nói trên nhưng có một vẻ đẹp riêng. Đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, lạc quan và nhân hậu. Bài thơ cũng thể hiện vẻ đẹp phong thái nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh mà nổi trội là sự phối hợp giữa cổ xưa và hiện đại.

Ở bài thơ Chiều tối, mỗi hình ảnh thơ luôn có sự vận động trong sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ xưa và bút pháp hiện đại. Tuy mang dáng dấp của những hình ảnh trong thơ cổ nhưng ý thơ, cảm hứng thơ và nhân vật trữ tình lại hoàn toàn hướng về ánh sáng, hướng tới thiên nhiên và cuộc sống con người. Hai câu thơ đầu mở ra không gian là cảnh núi rừng khi chiều tối:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Cảnh được gợi lên với bút pháp ước lệ quen thuộc trong thơ cổ đồng thời lại nói lên được đúng hoàn cảnh của Bác, mang những nét vẽ hiện đại. Vẽ lên nền trời chiều đang chuyển hình ảnh cánh chim bay về rừng tìm chốn ngủ là bút pháp nghệ thuật quen thuộc của thơ xưa. Trong thơ cổ khi viết về buổi chiều, những tác giả thường điểm xuyết bằng hình ảnh cánh chim để gợi nỗi buồn hiu quạnh, lấy không gian để gợi tả thời gian. Chúng ta từng bắt gặp cánh chim trong ca dao xưa: “Chim bay về núi tối rồi”; cánh chim bay mỏi trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” hay cánh chim thoi thót trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: “Chim hôm thoi thót về rừng”.

Tuy sử dụng bút pháp ước lệ của thơ cổ nhưng hai câu thơ đầu bài Chiều tối vẫn nói đúng hoàn cảnh riêng của Bác. Người đọc rất có thể hình dung cảnh người tù bị áp giải quan sát cảnh vật, ngẩng mặt lên trời nhận thấy hình ảnh cánh chim bay mỏi mệt và chòm mây trôi ngang qua bầu trời. Cảnh phảng phất một nỗi buồn hiu quạnh. Điều này được thể hiện rõ trong nguyên bản chữ Hán: “Cô vân mạn mạn độ thiên không” (Một chòm mây đơn lẻ chậm rãi trôi ngang qua bầu trời). Bản dịch không lột tả được hai chữ “mạn mạn”. Câu thơ dịch “chòm mây” có phần thanh thoát, không gợi được sự hiu quạnh của cảnh.

Nét vẽ hiện đại còn được thể hiện quan tâm trạng của người tù. Ở đây không phải là cánh chim bay bình thường mà là cánh chim bay mỏi mệt (quyện điểu), rất có thể có nhiều chòm mây nhưng khi đi vào thơ Bác chỉ sót lại chòm mây cô đơn. có vẻ như cánh chim cũng mỏi mệt sau một ngày bay đi tìm ăn về rừng tìm nơi ngủ cũng như người tù mỏi mệt sau một ngày lê bước trên đường xa cần chỗ nghỉ chân. Chòm mây cô đơn như tâm trạng của con người nơi đất khách đang nhớ về quê. Vẻ đẹp tâm hồn Bác ở hai câu thơ đầu trước hết là lòng yêu thiên nhiên. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con người cũng tìm tới thiên nhiên trong sự hòa hợp. Giữa cảnh và người có sự cảm thông hòa hợp.

Vẻ đẹp tâm hồn Bác còn là tấm lòng nhớ nước thương dân. Trong hai câu thơ đầu cảnh và tâm trạng đều phảng phất buồn. Buồn vì Người đang xa Tổ quốc, nhớ tới đồng chí đồng bào, bao công việc cách mạng đang chờ có Bác vậy mà Người cứ bị giải đi hết nhà lao này đến nhà lao khác. Tâm trạng ấy lại gặp cảnh núi rừng khi chiều tối không buồn sao được. Tâm hồn Bác mang vẻ đẹp của một tấm lòng luôn gắn bó với cuộc đời. Hình ảnh cánh chim, chòm mây trong thơ Bác gợi ta nhớ đến thơ Lí Bạch đời Đường:

“Chim bầy vút bay hết

Mây lẻ đi một mình”

(Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn)

Cánh chim trong thơ Đường của Lí Bạch bay vút vào không gian, như tan biến vào cõi vĩnh hằng. Cánh chim trong thơ Bác không bay đi hết, nó chỉ chuyển trạng thái từ bay sang nghỉ để rồi lại tiếp tục cái vòng tuần hoàn của sự sống. Một con người luôn hướng tới cuộc sống thì không những cảm nhận cảnh núi rừng hiu quạnh mà còn nhận thấy nơi xóm núi vẻ đẹp của cuộc sống con người. Chính vì vậy, hai câu thơ sau có sự chuyển hướng bất ngờ mà vẫn tự nhiên:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng)

Cảnh trong thơ Bác vừa mang vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong những nét vẽ cảnh vật. Trong thơ xưa, dưới cánh chim ngàn mây nổi thường xuất hiện hình ảnh những ẩn sĩ, những đạo sĩ. Trong thơ xưa, cảnh chiều tối vẫn thấp thoáng bóng người:

“Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

(Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

Hay trong thơ của Liễu Tông Nguyên vẫn có một ông lão ngồi một mình câu cá: “Độc điếu Hàn Giang tuyết”. Trong thơ Bác tuy cũng xuất hiện những cô sơn nữ nhưng là người lao động với công việc hằng ngày tuy vất vả mà vẫn ấm cúng. Hình ảnh ấy đã mang đến cho bức tranh cuộc sống nơi xóm núi một nét vẽ hiện đại. Hình ảnh cô em xóm núi xay ngô tối đã mang đến cho bức tranh buổi chiều tối một vẻ đẹp khỏe mạnh lạc quan. Đặc biệt là hình ảnh “lò than rực hồng” trở thành trung tâm, tâm điểm của bức tranh. Chính hình ảnh này đã làm cho bức tranh cuộc sống không thể u tịch, tĩnh lặng như những bức họa về cuộc sống trong thơ cổ. Chữ “hồng” trở thành nhãn tự của bài thơ. Một chữ “hồng” mà mang đến ánh sáng, hơi ấm, thú vui để xua tan bóng đêm, không khí lạnh và nỗi buồn hiu quạnh. Bút pháp nghệ thuật của Bác ở hai câu cuối có một nét đặc sắc rất đáng để lưu ý. Trong nguyên văn chữ Hán Bác không dùng từ nào nói về tối nhưng vẫn gợi lên được thời gian chuyển từ chiều đến tối một cách tự nhiên. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật dùng ánh sáng để gợi tả bóng tối. Lò than rực hồng từ trước nhưng khi trời còn sáng nhìn vẫn chưa rõ, khi bóng đêm buông xuống thì ánh lửa lò than bỗng rực rỡ hẳn lên. Bản dịch đã đưa thêm vào một chữ tối làm mất đi khá nhiều vẻ đẹp của thơ Bác. Giữa câu 3 và câu 4 có những cụm từ lặp lại theo như hình thức đảo: “ma bao túc” và “bao túc ma hoàn”. Hình thức này đã tạo thành kết cấu vòng tròn giữa hai câu thơ, gợi lên sự cảm nhận về vòng quay đều đều của chiếc cối xay ngô và từ vòng quay ấy gợi lên sự luôn chuyển của thời gian.

Trước cảnh cuộc sống con người nơi xóm núi, nhà thơ dạt dào cảm xúc. Qua cảm xúc của Bác người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh. Vẫn là vẻ đẹp của tấm lòng yêu đời nhưng ở hai câu thơ sau có điều thật cảm động. Hai câu thơ ghi lại cảnh cuộc sống gia đình nơi xóm núi điều đó chứng tỏ trên bước đường hoạt động cách mạng, một con người hi sinh toàn bộ vì dân vì nước thì trong trái tim vẫn có một khoảng tâm trạng dành riêng cho tình cảm gia đình. Về tấm lòng yêu đời của Bác ở hai câu thơ cuối, Hoài Thanh đã nhận được xét: “Một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn, vất vả mà vẫn ấm cúng, đáng quý, đáng yêu. Những hình ảnh như thế không thiếu gì chung quanh ta nhưng thường nó vẫn trôi qua đi. không tồn tại một tấm lòng yêu đời sâu sắc không thể nào ghi lại được”. Tâm hồn Bác còn là tâm hồn lạc quan nhân hậu. Hình ảnh lò than rực hồng là cảnh thực nhưng thể hiện tấm lòng lạc quan của Bác. Nếu một tâm hồn không hướng về ánh sáng thì không thể nào ghi lại được hình ảnh ngọn lửa lò than rực hồng đẹp đến thế, sáng đến thế đưa vào thơ.

Bài thơ viết ở thời điểm khi chiều tối mà như ta đã nói đằng sau lưng là một ngày đi đường vất vả có khi tới 53 cây số một ngày, trước mặt lại là những gian lao nguy hiểm mới đang chờ, lại đói rét, lại muỗi rệp. Thơ viết trong hoàn cảnh ấy nếu xuất phát từ cảnh ngộ cá nhân thì chỉ rất có thể là buồn. Nhưng ở bài thơ Chiều tối, thơ Bác lại chuyển từ buồn sang vui. Điều này chỉ rất có thể giải thích những vui buồn sướng khổ của Hồ Chí Minh không những xuất phát từ cảnh ngộ cá nhân mà còn xuất phát từ cuộc sống của người khác. Bác đã quên cảnh ngộ của người tù để vui với thú vui cuộc sống nơi xóm núi. Vì vậy, rất có thể nói bài thơ Chiều tối đã thể hiện một tấm lòng nhân đạo tới mức quên mình.

Như vậy, bài thơ chỉ có bốn câu song đã thể hiện rõ nét chất thép trong vẻ đẹp tâm hồn Bác. Đồng thời, sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ xưa và hiện đại đã mang đến cho bài thơ một vẻ đẹp vừa truyền thống vừa hiện đại. Đây đúng là một trong những yếu tố làm nên vẻ đẹp nghệ thuật thơ chữ Hán Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, thơ Bác không xa vào sự cũ kĩ về bút pháp, sự đơn điệu về hình ảnh, sự chuyển tải kết quả những biểu lộ về vẻ đẹp tâm hồn Bác tuy ở hoàn cảnh gian khổ tù đày nhưng Người luôn hướng về thiên nhiên và cuộc sống con người với sự đồng cảm, đồng điệu và quên đi hoàn cảnh riêng của tôi. Đó đúng là tinh thần thép vượt lên trên hoàn cảnh tù đày của bậc “Đại nhân – Đại trí – Đại dũng” Hồ Chí Minh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 7

Nhà thơ Hoàng Trung Thông khi đọc thơ của Bác Hồ đã từng viết:

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh

Vần thơ của Bác, vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.”

rất có thể nói nhận định trên đã nêu bật lên đặc trưng của phong thái thơ thơ Hồ Chí Minh: vừa giàu chất chiến đấu vừa đầy chất lãng mạn trữ tình. Nếu như mảng văn xuôi ghi dấu nhiều mẩu truyện, bài báo giàu tính chất châm biếm, đấu tranh thì thơ trữ tình của Người lại thấm đẫm cả tinh thần nghệ sĩ và tinh thần Cách mạng. Trong số đó, nổi trội là bài “Mộ” được trích từ tập Nhật kí trong tù. Đây là tác phẩm điển hình cho phong thái thơ của Bác: có sự hòa quyện tuyệt vời giữa màu sắc cổ xưa và tinh thần hiện đại

“Mộ” là bài thơ thứ 31 của tập Nhật kí trong tù, được Bác sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, trên đường đi từ nhà lao Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Đó là một buổi chiều tối, dù đã trải qua một ngày dài gian lao, vất vả nhưng Bác vẫn tiếp tục bị bọn lính áp giải trên đường và trước mắt là một đêm trong nhà lao chật hẹp, dơ dáy. Nói cách khác, ở thời điểm ấy, những đày đọa ban ngày vẫn vẫn chưa qua và những đày đọa màn đêm lại tiếp đây. Vậy mà, trong bài thơ lại tràn ngập ánh sáng của niềm tin và một tâm hồn ung dung, bình thản, tự do, tự tại.

Nhan đề “Chiều tối” thể hiện sự cảm nhận về thời gian của Bác khi rơi vào hoàn cảnh tù đày. Lấy “Chiều tối” làm thi đề cho bài thơ, Hồ Chí Minh đã tạo thành mạch chảy có tình truyền thống trong thơ. Ở hai câu đầu, nhà thơ vẽ ra cảnh thiên nhiên trong vùng sơn cước khi màn đêm buông xuống:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

Cô vân mạn mạn độ thiên không;”.

Thiên nhiên mở ra bằng những thi liệu quen thuộc: Cánh chim – chòm mây. Trong thơ ca cổ xưa phương Đông, cánh chim bay về tổ, về núi rừng thường mang ý nghĩa sâu sắc hình tượng cho buổi chiều tà: “Chim bay về núi, tối rồi” (Ca dao), “Chim hôm thoi thót về rừng” (Truyện Kiều )… Như vậy cánh chim chiều vừa mang ý nghĩa sâu sắc không gian, vừa mang ý nghĩa sâu sắc thời gian.

“Cô vân mạn mạn độ thiên không;”

Câu thơ gợi nhớ Thôi Hiệu “Ngàn năm mây trắng hiện giờ còn bay” (Hoàng Hạc lâu ) và thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu ); có điều, trong thơ Bác đó không phải là áng mây trắng ngàn năm gợi sự vĩnh hằng, cũng không phải là tầng mây lơ lửng gợi sự không vĩnh viễn mà cũng không mang bao nỗi khắc khoải mơ hồ của con người trước cõi hư không, không nhàn tản, thoát tục. Đây chỉ là một chòm mây quen thuộc trên bầu trời, nó gợi rất nhiều về cái cao rộng, trong trẻo, bình yên, êm ả, mênh mông, tĩnh lặng của một chiều thu nơi núi rừng Quảng Tây. Với chòm mây ấy, không gian như mênh mông vô tận và thời gian như ngừng trôi.

Bức tranh thiên nhiên xóm núi lúc chiều tối được mô tả bằng hai nét rất gợi cảm. Một cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) bay về rừng tìm cây trú ẩn. Một áng mây cô đơn, lẻ loi (cô vân) lơ lửng giữa bầu trời. Cảnh đẹp mà thoáng buồn đối nhau rất hài hoà. Chỉ hai nét vẽ, tả ít mà gợi nhiều đã làm hiện lên cái hồn cảnh vật. Tác đã vận dụng thi pháp cổ rất sáng tạo, lấy điểm vẽ diện, lấy động tả tĩnh gợi lên một bầu trời mênh mông, bao la, một không gian cực kì tĩnh lặng, vắng tanh.

Chòm mây lẻ loi trôi lững lờ trên tầng không, còn người tù thì cô đơn giữa một buổi chiều nơi đất khách, tuy giống như đám mây côi cút lẻ loi, những đám mây thì ít ra cũng có thể có được sự tự do trên bầu trời, còn người tù thì không. Thế nhưng ta cần phải thấy rằng, chòm mây cô lẻ ấy đúng là tâm hồn của người tù đang tự do trên không trung. Ngay trong cách nhìn cảnh, ta cũng nhận thấy thái độ ung dung của con người. Bút pháp chấm phá chỉ với vài nét vẽ ( bầu trời, cánh chim và chòm mây ) đã tả được cái hồn của cảnh chiều nơi rừng núi. Không gian như được mở rộng ra, rất khoáng đãng, mênh mang.

rất có thể thấy nhà thơ đã sử dụng cách truyền tải nội dung trữ tình theo cách tả cảnh ngụ tình quen thuộc của thơ cổ. trải qua hình ảnh “cánh chim” và hình ảnh “chòm mây bức tranh thiên nhiên chiều tối hiện ra với vẻ đẹp cổ xưa đầy thi vị. Hình ảnh của thơ Bác cũng mang tinh thần hiện đại bên cạnh những bút pháp cổ xưa khi lựa chọn những hình ảnh bình dị của cuộc sống thường ngày, có thật trong đời sống. Hai câu đầu gợi tới hai câu trong bài Độc tọa Kính Đình sơn của Lí Bạch:

Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn.

Xuân Diệu dịch:

Bầy chim một loạt bay cao

Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình.

rất có thể thấy, nếu cánh chim trong thơ Lí Bạch bay mất hút vào cõi vô tận, gợi sự vô định, xa xăm, phiêu bạt thì trong thơ Bác đó là cánh chim của đời sống hiện thực, nó có điểm dừng ( về rừng ), nó bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống: sáng bay đi tìm ăn, tối bay về rừng tìm chốn ngủ. Nhà thơ không sử dụng bất kỳ tính từ “tối” nào để nói về khoảng thời gian được quy chiếu trong bức tranh thơ những người đọc vẫn cảm nhận được sự vận hành của trời đất khi ngày tàn.

Sang hai câu cuối, ngỡ như cảnh vật ấy sẽ gợi lên những nỗi buồn nhân sinh, ám ảnh thân phận, thế nhưng bài thơ đã mang đến cho ta một cảm nhận hoàn toàn khác với hình ảnh con người lao động trong không gian xóm núi:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng)

Nếu trong hai câu đầu, cảnh vật hiện ra trong những nét vẽ chấm phá, phần nào mang tính chất ước lệ cổ xưa thì hình ảnh người phụ nữ lao động ở đây lại được gợi tả một cách cụ thể, sinh động như một bức tranh hiện thực. Chính nét vẽ đời thường ấy làm cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại, hơn thế, trong sự hình dung về cự li, khoảng cách với cánh chim và chòm mây (ở viễn cảnh ), hình ảnh cô nàng xay ngô, hình ảnh con người (ở cận cảnh ) nổi trội lên như là trung tâm của bức tranh thiên nhiên.

Bức tranh vẽ cái thời khắc đầu đêm bên xóm núi cho thấy Bác đã quên cảnh ngộ đau khổ của tôi để cảm nhận cuộc sống của nhân dân. Nó nói lên sự quan tâm, tình thương của Bác với những người lao động nghèo mà sự làm việc nặng nhọc được biểu lộ qua âm điệu khắc khổ của lời thơ. Câu thơ thứ ba nguyên tức là “cô nàng xóm núi xay ngô”. Đó là một câu mô tả chân thực, giản dị như đời sống hằng ngày. Đến hiện giờ, từ bức tranh thiên nhiên chuyển sang bức tranh đời sống, từ cảnh trời mây chim muông chuyển sang cảnh con người và lại là con người lao động – đấy là Xu thế vận động trong cấu trúc của bài thơ.

Ba chữ “ma bao túc” được điệp lại, đảo lại thành “bao túc ma hoàn” có giá trị thẩm mỹ đặc sắc. Nó vừa gợi tả sự chuyển động liên tục, mải miết của cối xay ngô, vừa thể hiện đức tính cần mẫn của cô thiếu nữ nơi xóm núi, đồng thời tạo thành âm điệu nhịp nhàng của vần thơ. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” (lô dĩ hồng) gợi lên một mái ấm gia đình yên vui. Trên đường đi đày nơi đất khách xa lạ, tâm hồn nhà thơ vẫn gắn bó với nhịp sống cần lao, hướng về ngọn lửa hồng, làm vơi đi ít nhiều cô đơn lẻ loi. Chữ “hồng” đặt cuối bài thơ, thi pháp cổ gọi là “thi nhãn”, làm sáng bừng bức tranh xóm núi trong chiều tối.

Bức tranh “Chiều tối” từ tư tưởng đến hình tượng, từ không gian, thời gian đến cảm xúc đều được mô tả, diễn tả trong trạng thái vận động. Vận động từ cảnh sắc thiên nhiên bầu trời đến bức tranh sinh hoạt trong gia đình, từ ngày tàn đến tối mù, từ nỗi buồn mệt mỏi cô đơn đến thú vui ấm cúng đoàn viên, từ bóng tối hướng tới ánh sáng. Đó cũng đúng là vẻ đẹp rất hiện đại của bài thơ này.

“Chiều tối” là bài thơ tiêu biểu cho phong thái thơ của Hồ Chủ tịch: vẻ đẹp cổ xưa xen lẫn tinh thần hiện đại. Bài thơ đã mang tới người đọc một bức tranh thiên nhiên cực kì sinh động tươi đẹp của một buổi chiều trong vùng sơn cước. Đồng thời, nó cũng cho chúng ta thấy tâm hồn thanh cao, tinh thần lạc quan yêu đời của tác giả dù trong hoàn cảnh nào tác giả vẫn lạc quan tin tưởng vào cuộc sống vào tương lai đang trong cảnh tù đày, bị đày đọa cả về thân xác và tinh thần.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 8

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già của dân tộc, Người không con mà có triệu con. Bác là người chiến sĩ cộng sản thứ nhất của Việt Nam, người mở ra con đường cứu nước cho dân tộc không những vậy Bác còn là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực văn chương. Tiêu biểu là tập thơ “Nhật kí trong tù”, “tập thơ đã tỏa ra ánh sáng của bậc đại nhân, đại trí, đại dung” được sáng tác trong tầm thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. nổi trội trong 134 bài thơ ấy là bài thơ số 31 “Mộ” (Chiều tối) mang đậm vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại được phối hợp hài hòa tạo thành sức hấp dẫn riêng biệt của tác phẩm.

“Chiều tối” được sáng tác khi Bác bị thiên chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo vào cuối năm 1942. Vẻ đẹp khung cảnh thiên nhiên miền sơn cước cùng với tâm hồn, tâm trạng thi nhân là nền móng để Bác sáng tác bài thơ mang nhiều giá trị sâu sắc và đặc trưng nghệ thuật vừa cổ xưa vừa hiện đại.

Vậy thế nào là vẻ đẹp cổ xưa? Đó là sự tuân thủ những đặc trưng của thi pháp văn học trung đại nó mang tính quy phạm, tuân theo một quy luật, một khuôn mẫu có sẵn, sử dụng những điển tích, điển cố, bút pháp ước lệ tượng trưng, tả cảnh ngụ tình…nói chung với sự tuân thủ đó nó hạn chế sáng tạo cá nhân nhưng lại mang nét đẹp cổ kính, trang nhã. Còn vẻ đẹp hiện đại là sự phá vỡ tính quy phạm, cách tân nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo và cái tôi cá nhân của tác giả, mang Xu thế bình dị trả văn học về với hiện thực cuộc đời, gần gũi trong cuộc sống.

Vẻ đẹp cổ xưa của bài thơ trước hết được thể hiện ở ngôn ngữ và thể thơ. Tác giả sáng tác bằng Hán, sử dụng thể thất ngôn tứ tuyệt chỉ với bốn câu thơ bảy chữ, ý thơ bị dồn nén trong câu từ nhưng đã thực sự vẽ lên được bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người nơi đây. Nét cổ xưa trong cảm hứng sáng tác. Chiều về là khoảng thời gian đượm buồn đối với những người xa quê, nó khiến cho con người ta khắc khoải nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Ta đã từng bắt gặp nỗi nhớ ấy trong bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan, hay nhà thơ Thôi Hiệu nhìn thấy khói sóng trên sông lúc hoàng hôn mà bâng khuâng: “quê khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Ở đây nhà thơ cũng vậy, Hồ Chí Minh lấy cảm hứng chiều hoàng hôn nơi đất khách quê người mà thể hiện tình cảm của tôi.

Vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại được quyện vào nhau thể hiện xuyên suốt trong toàn bài ở từng hình ảnh thơ. Trước hết là ở hai hình ảnh nổi trội của thiên nhiên với bút pháp chấm phá điểm nhãn, ước lệ tượng trưng. Đó là cánh chim mỏi và chòm mây cô đơn:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Hai hình ảnh đặc tả thời gian, không gian lúc chiều tà rất quen thuộc. Cánh chim ấy, đám mây ấy đã từng xuất hiện trong thơ của Lí Bạch: “Chúng điểu cao phi tận/ Cô vân độc khứ hàn”. Tuy nhiên cánh chim của Hồ Chí Minh không bay vút vào trong trời xanh mà nó vận động trong khoảnh khắc mỏi mệt sau một ngày vất vả muốn tìm chốn nghỉ. Với bút pháp đường thi nhà thơ đã dùng cái hữu hạn của cánh chim để nói cái vô hạn mênh mông, bao la của bầu trời. Cánh chim ở đây cũng mang nét hiện đại đó là cánh chim bay có phương hướng, có mục đích và điểm dừng rõ ràng, cánh chim không những được tả ở bên phía ngoài mà còn được cảm nhận từ bên trong là chim mỏi mệt tạo thành nét riêng của Hồ Chí Minh. Hình ảnh thứ hai là chòm mây cô đơn nhưng trong bản dịch vẫn chưa thể hiện được từ “cô” chỉ tâm thế tồn tại cô đơn, cô độc.

Ta đã từng bắt gặp đám mây trong thơ Thôi Hiệu: “Ngàn năm mây trắng hiện giờ còn bay” hay đám mây xanh ngắt trong thơ Nguyễn Khuyến. Chỉ với hai hình ảnh là linh hồn của thiên nhiên tác giả không hề sử dụng một từ nào nhắc đến buổi chiều nhưng đã gợi ra được không gian, thời gian với nét đẹp bình dị, yên ả lúc chiều tà. Nhà thơ sử dụng biện pháp tả cảnh ngụ tình trong thơ ca trung đại. Nói về cảnh vật bên phía ngoài nhưng thực chất là thể hiện tâm trạng bên trong con người ẩn sau lớp ngôn từ rất cần phải giải thuật. Hồ Chí Minh tả cánh chim mỏi phải chăng sau một ngày tù lê bước chân đi Bác cũng đã thấm mệt, cũng mong muốn được dừng chân nghỉ ngơi, muốn được tự do như cánh chim ấy. Tả chòm mây cô đơn, trôi chầm chậm trên bầu trời cũng là để gợi thân phận, hoàn cảnh của bản thân đang cô độc, do dự không biết đi đâu về đâu. Dù chân dung người tù không được nhắc đến nhưng ta vẫn thấy hiện lên tư thế ung dung, phong thái tĩnh tại không hề có chút mệt mỏi, buồn bã, bất lực. Phải là một con tình nhân thiên nhiên cực kì dù ở trong lúc chân xiềng xích vẫn rất có thể bình thản ngắm nhìn từng khoảnh khắc vận động của cảnh vật. Người cũng phải có một nghị lực phi thường, vượt lên hoàn cảnh cá nhân mới rất có thể ung dung trong tư thế, tự do trong tâm hồn đến vậy. Xiềng xích, gông cùm rất có thể nhốt thân xác nhưng không thể trói buộc được trái đất tinh thần của Người.

Nét cổ xưa và hiện đại còn được thể hiện ở hai câu thơ cuối mô tả cuộc sống và con người miền sơn cước. Ở đây triệu tập chủ yếu là nét đẹp hiện đại khi ngòi bút của Bác hướng tới sự vận động trong cuộc sống đời thường của con người:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng”

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng.

“Cô em” trong bản dịch có vẻ như nó làm mất đi sự trân trọng mà Bác dành riêng cho người lao động và vẫn chưa thể hiện được đúng nghĩa của từ “thiếu nữ” trong nguyên tác. Nét cổ xưa được thể hiện ở bút pháp vẽ mây nảy trăng, lấy ánh sáng để tả bóng tối. Trong nguyên tác chữ Hán không hề nhắc tới từ tối nhưng vẫn gợi ra cho người đọc thấy được đêm tối đang bao phủ với hình ảnh bếp lửa sáng rực, tuy nhiên trong bản dịch thơ cho thêm từ “tối” làm mất đi sự thú vị của ý thơ. Hình ảnh thiếu nữ đang lao động trong đêm với công việc nặng nhọc, vất vả được thể hiện qua nghệ thuật điệp vòng cấu trúc ở cuối câu ba, đầu câu bốn cho thấy sự kết thúc một công việc lại mở ra một công việc mới trong sự vận động lặng lẽ của thời gian từ chiều cho tới đêm tối. Con người hiện lên trên bức tranh thiên nhiên trong thơ xưa thường là những người thuộc tầng lớp thượng lưu ít có hình ảnh nào lại bình dị như trong bài thơ của Bác. Chính con người lao động ấy đã làm rực sáng lên trong không gian tĩnh lặng, u tối. Đặc biệt là chữ “hồng” ở cuối bài thơ được nhiều ý kiến cho rằng đó là nhãn tự, là con mắt thơ trong toàn bài, nó tỏa lên ánh sáng của hiện thực, ánh sáng của tương lai.

Qua đó cho thấy sự đồng cảm, thương xót của Bác dành riêng cho cuộc sống con người cơ cực, vất vả. Tình cảm ấy Bác không những dành riêng cho người nông dân Việt Nam mà nó bao la, rộng lớn dành riêng cho toàn bộ những người lao động trên trái đất. Hoài Thanh đã nhận được xét: “Một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn, vất vả mà vẫn ấm cúng, đáng quý, đáng yêu. Những hình ảnh như thế không thiếu gì chung quanh ta nhưng thường nó vẫn trôi qua đi. không tồn tại một tấm lòng yêu đời sâu sắc không thể nào ghi lại được”. Tấm lòng yêu đời thương người của Bác mênh mông, sâu sắc đúng như Tố Hữu đã từng nói: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế/ Ôm cả non sông mọi kiếp người” nó đối lập hoàn toàn với câu nói của Nam Cao “Khi người ta đau chân, người ta không thể tâm trí đâu để nghĩ đến người khác” làm nên giá trị nhân văn cao đẹp trong phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh.

Để có được một bài thơ hay, giàu giá trị vừa mang vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại thi nhân ắt hẳn phải là một con người tài năng và am hiểu về văn học nghệ thuật. Có nét cổ xưa là bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình trí thức, ngay từ nhỏ Người đã được đọc sách thánh hiền, thấm nhuần triết lí nho gia và tiếp thu tinh hoa nền văn học Trung Quốc. Có nét hiện đại bởi Người đã từng có 30 năm bôn ba quốc tế học tập văn hóa, văn học phương Tây, đi đây đi đó nhiều nơi tiếp xúc với nhiều mảnh đời nhân loại làm nên bản sắc cá nhân độc đáo riêng biệt.

Như vậy bài thơ “Chiều tối” là sự thành công của việc phối hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ xưa và cách tân hiện đại, giữa sự rung cảm tâm hồn của thi sĩ với tinh thần thép của người chiến sĩ cộng sản. Tác phẩm đã để lại cho độc giả nhiều ấn tượng và suy ngẫm về phẩm chất đạo đức của Người.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 9

Tháng 10 năm 1942, trên đường bị giải đi từ nhà tù Thiên Bảo đến nhà ngục Long Tuyền trên đất Quảng Tây, Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết bài thơ “Chiều tối” (Mộ). Đây là bài thơ số 31 trong “Ngục trung nhật kí”, bài thất ngôn tứ tuyệt mang vẻ cổ xưa và hiện đại:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

Cô vân mạn mạn độ thiên không;

Sơn thôn thiếu nữ ma hao túc,

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.

Bài thơ tả cảnh chiều tối nơi xóm núi xa lạ và thể hiện cảm xúc, nỗi niềm của người chiến sĩ trên con đường đi đày. Bức tranh thiên nhiên xóm núi lúc chiều tối được mô tả bằng hai nét rất gợi cảm. Một cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) bay về rừng tìm cây trú ẩn. Một áng mây cô đơn, lẻ loi (cô vân) lơ lửng giữa bầu trời. Cảnh đẹp mà thoáng buồn (mỏi mệt, cô đơn), đối nhau rất hài hoà. Chỉ hai nét vẽ, tả ít mà gợi nhiều đã làm hiện lên cái hồn cảnh vật. Cánh chim nhỏ nhoi nhẹ bay, áng mây cô đơn nhẹ trôi; tác đã vận dụng thi pháp cổ rất sáng tạo, đã lấy điểm đổ vẽ diên, lấy động để tả tĩnh, gợi lên một bầu trời mênh mông, baọ la, một không gian cực kì tĩnh lặng, vắng tanh. Bức tranh thiên nhiên chiều tối mang vẻ đẹp cổ xưa đầy thi vị:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

Cô vân mạn mạn độ thiên không”.

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa, tầng không).

Ngoại cảnh đã thể hiện tâm cảnh của nhân vật trữ tình. Cánh chim và áng mây, chữ “quyện” (quyện điểu) và chữ “cô” (cô vân) có giá trị biểu lộ cảm xúc mỏi mệt, nỗi niềm cô đơn của nhà thơ sau một ngày dài bị giải đi nơi đất khách quệ người. Bức tranh thiên nhiên “Chiều tối” mang tính ước lệ tượng trưng đặc sắc, nó mang đến cho ta bao liên tưởng về những vần thơ đẹp:

“Chim hôm thoi thót về rừng”.

(Truyện Kiều)

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”.

(Tràng giang)

Hai câu thơ cuối bài “Chiền tối” tả cảnh dân dã đời thường nơi xóm núi. Hai nét vẽ vừa tươi tắn vừa bình dị hiện đại, là thiếu nữ xay ngô và lò than đã rực hồng:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.

Ba chữ “ma bao túc” được điệp lại, đảo lại thành “bao túc ma hoàn” có giá trị thẩm mĩ đặc sắc. Nó vừa gợi tả sự chuyển động liên tục, mải miết của cối xay ngô, vừa thể hiện đức tính cần mẫn của cô thiếu nữ nơi xóm núi, đồng thời tạo thành âm điệu nhịp nhàng của vần thơ. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” (lô dĩ hồng) gợi lên một mái ấm gia đình yên vui. Trên đường đi đày nơi đất khh xa lạ, tâm hồn nhà thơ vẫn gắn bó với nhịp sống cần lao, hướng về ngọn lửa hồng, làm vợi đi ít nhiều cô đơn lẻ loi, thầm mơ ước về một cảnh gia đình đoàn viên đầm ấm. Chữ “hồng” đặt cuối bài thơ, thi pháp cổ gọi là “thi nhãn”, làm sáng bừng bức tranh xóm núi trong chiều tối. “Hồng” là ánh sáng của lò than rực cháy, cũng là ánh sáng của tâm hồn Hồ Chí Minh. Một tâm hồn rất lạc quan, yêu đời.

Bức tranh “Chiều tối” từ tư tường đến hình tượng, từ không gian, thời gian đến cảm xúc đều được mô tả, diễn tả trong trạng thái vận động. Vận động từ cảnh sắc thiên nhiên bầu trời đến bức tranh sinh hoạt trong gia đình, từ ngày tàn đến tối mù, từ nỗi buồn mệt mỏi cô đơn đến thú vui ấm cúng đoàn viên, từ bóng tối hướng tới ánh sáng. Nghệ thuật lấy ánh lửa hồng để tả bóng tối màn đêm rất đặc sắc. Trong nguyên tác bài “Mộ” không tồn tại chữ “tối” mà người đọc vẫn cảm thấy trời đã tối hẳn rồi. Câu thơ dịch đã thêm vào một chữ “tối”, đó là điều ta nên biết:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xaỵ hết lò than đã rực hồng”.

Bài thơ tứ tuyệt “Chiều tối” mang vẻ đẹp cổ xưa, hiện đại. Ngôn ngữ hàm súc gợi cảm. Hình tượng cánh chim, áng mây mang tính ước lệ, đẹp mà thoáng buồn. Bút pháp tinh ý, điêu luyện. Một tâm hồn trong sáng, hồn hậu, giàu xúc cảm: yêu thiên nhiên và yêu đời. Đi đày mà phong thái nhà thơ thật ung dung tự tại.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” số 10

Tập Nhật kí trong tù được sáng tác trong quãng thời gian đặc biệt nhạy cảm đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đó là thời điểm người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và đày ải đi khắp những nhà lao. Vì vậy, Trong số đó có nhiều bài nói về chuyện đi đường, cảnh chuyển lao, khi sáng sớm, lúc Chiều tối… nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì bài thơ giải tù cũng làm sáng lên vẻ đẹp vẻ đẹp tâm hồn Bác. Bài thơ Chiều tối là một bài thơ trong tập Nhật ký trong tù nhưng lại mang một vẻ đẹp riêng. Đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, lạc quan và nhân hậu. Bài thơ cũng thể hiện vẻ đẹp trong phong thái thơ Hồ Chí Minh: sự phối hợp giữa cổ xưa và hiện đại.

Ở bài thơ Chiều tối, mỗi hình ảnh thơ luôn có sự vận động trong sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ xưa và bút pháp hiện đại. Tuy mang dáng dấp của những hình ảnh trong thơ cổ nhưng ý thơ, cảm hứng thơ và nhân vật trữ tình lại hoàn toàn hướng về ánh sáng, hướng tới thiên nhiên và cuộc sống con người. Hai câu thơ đầu mở ra không gian là cảnh núi rừng khi chiều tối:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Cảnh được gợi lên với bút pháp ước lệ quen thuộc trong thơ cổ đồng thời lại nói lên hoàn cảnh của Bác, mang những nét vẽ hiện đại. Vẽ lên nền trời chiều đang chuyển động, hình ảnh cánh chim bay về rừng tìm chốn ngủ là bút pháp nghệ thuật quen thuộc của thơ xưa. Trong thơ cổ khi viết về buổi chiều, những tác giả thường điểm xuyết bằng hình ảnh cánh chim để gợi nỗi buồn hiu quạnh, lấy không gian để gợi tả thời gian.

Tuy sử dụng bút pháp ước lệ của thơ cổ nhưng hai câu thơ đầu bài thơ Chiều tối vẫn nói lên hoàn cảnh riêng của Bác. Người đọc rất có thể hình dung cảnh người tù bị áp giải quan sát cảnh vật, ngẩng mặt lên trời nhận thấy hình ảnh cánh chim bay mỏi mệt và chòm mây trôi ngang qua bầu trời. Cảnh vật phảng phất một nỗi buồn hiu quạnh. Điều này được thể hiện rõ trong nguyên bản chữ Hán:

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

(Một chòm mây đơn lẻ chậm rãi trôi ngang qua bầu trời).

Nét vẽ hiện đại còn được thể hiện quan tâm trạng của người tù. Ở đây không phải là cánh chim bay bình thường mà là cánh chim bay mỏi mệt (quyện điểu), rất có thể có nhiều chòm mây nhưng khi đi vào thơ Bác chỉ sót lại chòm mây cô đơn. có vẻ như cánh chim cũng mỏi mệt sau một ngày bay đi tìm ăn về rừng tìm nơi ngủ cũng như người tù mỏi mệt sau một ngày lê bước trên đường xa cần chỗ nghỉ chân. Chòm mây cô đơn như tâm trạng của con người nơi đất khách đang nhớ về quê. Vẻ đẹp tâm hồn Bác ở hai câu thơ đầu trước hết là lòng yêu thiên nhiên. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Người cũng tìm tới thiên nhiên trong sự hòa hợp. Giữa cảnh và người có sự hòa hợp cảm thông.

Vẻ đẹp tâm hồn Bác còn thể hiện tấm lòng nhớ nước thương dân. Trong hai câu thơ đầu cảnh và tâm trạng đều phảng phất buồn. Buồn vì Người đang xa Tổ quốc, nhớ tới đồng chí đồng bào, bao công việc cách mạng đang chờ vậy mà Người cứ bị giải đi hết nhà lao này đến nhà lao khác. Tâm trạng ấy lại gặp cảnh núi rừng khi Chiều tối không buồn sao được. Tâm hồn Bác mang vẻ đẹp của một tấm lòng luôn gắn bó với cuộc đời.

Cánh chim trong thơ Bác không bay đi hết, nó chỉ chuyển trạng thái từ bay sang nghỉ để rồi lại tiếp tục cái vòng tuần hoàn của sự sống. Một con người luôn hướng tới cuộc sống thì không những cảm nhận cảnh núi rừng hiu quạnh mà còn nhận thấy nơi xóm núi vẻ đẹp của cuộc sống con người. Chính vì vậy, hai câu thơ sau có sự chuyển hướng bất ngờ mà vẫn tự nhiên:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng)

Cảnh trong Chiều tối vừa mang vẻ đẹp cổ xưa, vừa mang nét vẽ hiện đại. Trong thơ xưa, dưới cánh chim ngàn mây nổi thường xuất hiện hình ảnh những ẩn sĩ, những đạo sĩ. Trong thơ Bác tuy cũng xuất hiện những cô sơn nữ nhưng là người lao động với công việc hằng ngày tuy vất vả mà vẫn ấm cúng. Hình ảnh ấy đã mang đến cho bức tranh cuộc sống nơi xóm núi một nét vẽ hiện đại. Hình ảnh cô em xóm núi xay ngô tối đã mang đến cho bức tranh buổi chiều tối một vẻ đẹp khỏe mạnh lạc quan. Đặc biệt là hình ảnh “lò than rực hồng” trở thành tâm điểm của bức tranh. Chính hình ảnh này đã làm cho bức tranh cuộc sống không thể u tịch, tĩnh lặng như những bức họa về cuộc sống trong thơ cổ. Chữ “hồng” trở thành nhãn tự của bài thơ. Một chữ “hồng” mà mang đến ánh sáng, hơi ấm, thú vui để xua tan bóng đêm, không khí lạnh và nỗi buồn hiu quạnh.

Bút pháp nghệ thuật của Bác ở hai câu cuối có một nét đặc sắc rất đáng để lưu ý. Trong nguyên văn chữ Hán Bác không dùng từ nào nói về tối nhưng vẫn gợi lên được thời gian dịch chuyển từ chiều đến tối một cách tự nhiên. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật dùng ánh sáng để gợi tả bóng tối. Lò than rực hồng từ trước nhưng khi trời còn sáng nhìn vẫn chưa rõ, khi bóng đêm buông xuống thì ánh lửa lò than bỗng rực rỡ hẳn lên. Bản dịch bài thơ Chiều tối đã đưa thêm vào một chữ tối làm mất đi khá nhiều vẻ đẹp của thơ Hồ Chí Minh. Giữa câu 3 và câu 4 có những cụm từ lặp lại theo như hình thức đảo: “ma bao túc” và “bao túc ma hoàn”. Hình thức này đã tạo thành kết cấu vòng tròn giữa hai câu thơ, gợi lên sự cảm nhận về vòng quay đều đều của chiếc cối xay ngô và từ vòng quay ấy gợi lên sự luân chuyển tuần hoàn của thời gian.

Hai câu thơ ghi lại cảnh cuộc sống gia đình nơi xóm núi điều đó chứng tỏ trên bước đường hoạt động cách mạng, một con người hi sinh toàn bộ vì dân vì nước thì trong trái tim vẫn có một khoảng tâm trạng dành riêng cho tình cảm gia đình. Về tấm lòng yêu đời của Bác ở hai câu thơ cuối, Hoài Thanh đã nhận được xét: “Một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn, vất vả mà vẫn ấm cúng, đáng quý, đáng yêu. Những hình ảnh như thế không thiếu gì chung quanh ta nhưng thường nó vẫn trôi qua đi. không tồn tại một tấm lòng yêu đời sâu sắc không thể nào ghi lại được”. Tâm hồn Bác còn là tâm hồn lạc quan nhân hậu. Hình ảnh lò than rực hồng là cảnh thực nhưng thể hiện tấm lòng lạc quan của Người. Nếu một tâm hồn không hướng về ánh sáng thì không thể nào ghi lại được hình ảnh ngọn lửa lò than rực hồng đẹp đến thế, sáng đến thế đưa vào thơ.

Bài thơ Chiều tối viết ở thời điểm khi chiều tối mà như ta đã nói đằng sau lưng là một ngày đi đường vất vả có khi tới 53 cây số một ngày, trước mặt lại là những gian lao nguy hiểm mới đang chờ, đói rét, muỗi rệp. Thơ viết trong hoàn cảnh ấy nếu xuất phát từ cảnh ngộ cá nhân thì chỉ rất có thể là buồn. Nhưng ở Chiều tối, tứ thơ lại chuyển từ buồn sang vui. Điều này chỉ rất có thể giải thích những vui buồn sướng khổ của Hồ Chí Minh không những xuất phát từ cảnh ngộ cá nhân mà còn xuất phát từ cuộc sống của người khác. Bác đã quên cảnh ngộ của người tù để vui với thú vui cuộc sống nơi xóm núi. Vì vậy, rất có thể nói bài thơ Chiều tối đã thể hiện một tấm lòng nhân đạo tới mức quên mình.

Như vậy, bài thơ Chiều tối chỉ có bốn câu song đã thể hiện rõ nét chất thép trong vẻ đẹp tâm hồn Bác. Đồng thời, sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ xưa và hiện đại đã mang đến cho bài thơ một vẻ đẹp vừa truyền thống vừa hiện đại. Đây đúng là một trong những yếu tố làm nên vẻ đẹp nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, thơ Bác không sa vào sự cũ kĩ về bút pháp, sự đơn điệu về hình ảnh, sự chuyển tải kết quả những biểu lộ về vẻ đẹp tâm hồn Bác tuy ở hoàn cảnh gian khổ tù đày nhưng Người luôn hướng về thiên nhiên và cuộc sống con người với sự đồng cảm, đồng điệu và quên đi hoàn cảnh riêng của tôi. Đó đúng là tinh thần thép vượt lên trên hoàn cảnh của Hồ Chí Minh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh (lớp 11) hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh (lớp 11) hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh (lớp 11) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *